mở rộng 1 - không xài

CÔNG DỤNG LÀM ĐẸP CỦA TỎI

  • 26/06/2018
  • 1,108

Trong 10 năm qua, đã có 15 triệu lao động có việc làm, trong đó, khoảng 50% làm trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, nhóm đối tượng này có việc nhưng lại không năng suất (năng suất trong ngành nông nghiệp chỉ bằng 1/4 ngành công nghiệp và bằng 1/3 ngành dịch vụ).

Theo kết quả khảo sát của Văn phòng Hỗ trợ Tư vấn Phản biện và Giám định Xã hội (thuộc Liên các Hội KHKT Việt Nam), trong 10 năm qua (2001- 2010), đã có 15 triệu lao động có việc làm, trong đó, khoảng 50% làm trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, nhóm đối tượng này có việc nhưng lại không năng suất (năng suất trong ngành nông nghiệp chỉ bằng 1/4 ngành công nghiệp và bằng 1/3 ngành dịch vụ).

Cũng theo báo cáo này, trong 10 năm qua, có khoảng 65% doanh nghiệp là các doanh nghiệp nhỏ hoặc siêu nhỏ có năng suất thấp, sức cạnh tranh yếu, hoạt động thiếu hiệu quả và sản xuất các sản phẩm thiếu giá trị gia tăng.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy, phần lớn lao động Việt Nam dễ gặp phải rủi ro khi không được bảo vệ bởi hệ thống bảo trợ xã hội vì họ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp hoặc khu vực phi chính thức. Trong khi nhận thức cũng như việc tuân thủ quy định đóng bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân trong nước còn kém. Ngoài ra, việc chấp hành và thực hiện Bộ Luật lao động kém trong khi Bộ luật áp dụng không đồng đều với các loại hình doanh nghiệp khác nhau cũng là cản trở khiến cho người lao động luôn trở thành kẻ “thấp cổ bé họng” phải chịu thiệt thòi về quyền lợi.

Tuy nhiên, trong khoảng thời gian đó, trên một nửa số doanh nghiệp có quy mô lao động nhỏ, ít hơn 10 lao động và chưa đầy 2% doanh nghiệp tuyển dụng hơn 200 lao động, chủ yếu tập trung ở vùng Đông Nam. Doanh nghiệp ở các ngành có khả năng có giá trị sản xuất cao như sản xuất công nghiệp và thương mại sử dụng ít lao động trong khi đó ngành nông nghiệp lại tạo ra 48,7% việc làm và chỉ đóng góp 22,1% GDP.

Tiếp đến là tình trạng mất cân đối cung cầu lao động cục bộ xảy ra ở nhiều khu vực, lĩnh vực và ngành kinh tế khác nhau. Dư thừa lao động phổ thông và thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật khá phổ biến, nhiều doanh nghiệp ngày càng gặp khó khăn trong tuyển dụng, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và chế xuất phía Nam.

TS Papola, Văn phòng Hỗ trợ Tư vấn Phản biện và Giám định Xã hội nhận xét rằng, tuy việc làm đã tăng, số người có việc làm được ước tính tăng từ khoảng 35,6 triệu người năm 1997 lên 48 triệu người năm 2009, nhưng điều đó cũng không làm giảm thất nghiệp.Số người thất nghiệp đã tăng từ 1,05 triệu người năm 1997 lên 1,29 triệu người năm 2009. Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm từ 2,9 năm 1997 xuống 2,3 năm 2000, nhưng đến năm 2009 lại tăng lên 2,6. Số người thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp tăng lên đáng kể trong năm 2008 và 2009 là do tác động kinh tế của khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Cũng theo TS Papola, Đề án 1956 đặt mục tiêu đào tạo mỗi năm 1 triệu lao động nông thôn trong đó số lao động nông thôn được đào tạo nghề nông nghiệp chiếm khoảng 1/3 nhưng do năng suất lao động trong nông nghiệp thấp nên nông nghiệp đang ngày càng không thu hút được những lao động trẻ. Xu hướng già hóa nông nghiệp chính là một trong những cản trở quan trọng cho việc đạt các mục tiêu này.

Cũng trong lần khảo sát này, nhóm chuyên gia của TS Papola nhận thấy, ngoài số người thất nghiệp thì chất lượng việc làm là một trong những thách thức lớn về việc làm mà Việt Nam phải đối mặt. Đại đa số việc làm nằm trong khu vực phi chính thức hoặc loại hình phi chính thức, việc làm không thường xuyên và không có bảo trợ xã hội. Khoảng 3/4 trong tổng số việc làm được đánh giá là “dễ bị tổn thương”, như việc làm gia đình không được trả lương hoặc tự làm; thu nhập không ổn định và dao động.

Dự báo, 10 năm sau, lao động trong ngành nông nghiệp sẽ giảm xuống cả về tỷ trọng và số lượng, trong khi đó số lao động trong ngành thương mại và dịch vụ sẽ tăng lên cả về tỷ trọng và số lượng.

Tin tức liên quan

Nhiều rào cản xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc

Nhiều rào cản xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc

Xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc tiềm năng rất lớn nhưng vẫn còn nhiều rào cản về thủ tục pháp lý, kiểm định chất lượng, kiểm dịch... Nhiều vụ dưa hấu được mùa nhưng mất giá do không xuất khẩu được sang Trung Quốc. Bà Lê Thị Ngọc Phượng, đại diện Công ty TNHH Thuận Tâm Thành (tỉnh Hưng Yên) cho biết, mỗi lần xuất khẩu các sản phẩm hoa quả sang thị trường Trung Quốc là hành trình gian nan. “Doanh nghiệp chủ yếu vận chuyển bằng đường biển nhưng mỗi lần thuê tàu rất khó. Trong khi hoa quả, nhất là chuối tươi không thể để lâu. Các thủ tục hải quan, kiểm định chất lượng hàng hóa bên phía Trung Quốc cũng rất khắt khe”, bà Phương nói. Hàng hóa ùn ứ tại cửa khẩu Móng Cái. Hiện có 12 nhóm hàng của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc, chủ yếu là các mặt hàng thủy sản, rau quả, gạo, thức ăn gia súc và nguyên liệu, gỗ cùng các sản phẩm từ gỗ. Tuy nhiên, một số mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam vẫn chưa vào được thị trường Trung Quốc như cà phê. Xuất khẩu cà phê nước ta đứng thứ 2 thế giới (chỉ sau Brasil) nhưng giá trị xuất khẩu cà phê sang Trung Quốc đạt hơn 84 triệu USD. Đại diện một số doanh nghiệp Việt Nam cho biết, cà phê xuất khẩu sang Trung Quốc bằng con đường chính ngạch rất thấp. Các doanh nghiệp phải tự liên hệ, kết nối đầu mối tiêu thụ, việc hỗ trợ tiêu thụ, xuất khẩu mặt hàng cà phê chưa thực sự hiệu quả. “Doanh nghiệp tiếp cận thị trường thông qua rất nhiều kênh như online, mối quan hệ và thông qua hội chợ. Nói chung bây giờ các doanh nghiệp tư nhân hầu như phải tự thân vận động” - anh Nguyễn Duy Hưng, Công ty xuất nhập khẩu Cường Anh cho biết. Ông Đỗ Đức Duy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái cho rằng, để nâng cao giá trị xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc, trước hết phải chú trọng kết nối cung - cầu, kiểm soát chặt chẽ hàng Việt Nam vào thị trường Trung Quốc bằng con đường tiểu ngạch. Thực tế, một số sản phẩm hàng nông sản nổi tiếng của Việt Nam như gạo, trái cây hiện đang phụ thuộc rất lớn vào phía đối tác. “Các bộ, ngành Trung ương cần có sự kết nối và dự báo về nhu cầu cũng như hỗ trợ các địa phương trong việc kết nối cung- cầu. Hiện nay, việc làm ra các sản phẩm với sản lượng lớn, chất lượng cao không khó, kể cả làm theo quy trình nghiêm ngặt nhất của quốc tế. Tuy nhiên, điều gây khó khăn nhất cho các địa phương cũng như bà con nông dân là đảm bảo tiêu thụ đầu ra thật sự bền vững, có những thị trường tiềm năng, đảm bảo tiêu thụ ổn định” – ông Đỗ Đức Duy nói. Để tháo gỡ những vướng mắc cho nông sản Việt Nam vào thị trường Trung Quốc, ông Trần Văn Công, Phó Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản cho biết, phía Việt Nam và Trung Quốc đã đàm phán cấp Chính phủ và cấp bộ để mở cửa xuất nhập khẩu hàng hóa nông sản. Trong đó chú trọng các mặt hàng rau, củ, quả, lâm sản, thủy sản của Việt Nam xuất sang Trung Quốc. Hai bên đã đàm phán cho nhập khẩu 8 loại quả tươi và rau của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc. Hai bên hiện đang tiếp tục đàm phán để hàng hóa Việt Nam xuất khẩu chính ngạch các loại hoa, quả tươi, cao su, cà phê, tiêu… “Lâu nay chúng ta quen với khái niệm Trung Quốc là thị trường dễ tính nhưng hiện nay, hàng rào cũng như quy định của Trung Quốc đã thay đổi. Cho nên doanh nghiệp và bà con nông dân cũng phải thay đổi. Chúng ta phải nâng cao chất lượng từ khâu sản xuất, sơ chế, chế biến, đóng gói bao bì xuất khẩu” – ông Công nói. Mới đây, một số địa phương của Trung Quốc đưa ra quy định về truy xuất nguồn gốc đối với một số mặt hàng nông sản của Việt Nam. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang phối hợp với các địa phương cấp mã số vùng trồng cho các địa phương, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc dán tem sản phẩm để trên cơ sở đó, doanh nghiệp Việt Nam mới có thể xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc. Ngoài ra, phía Trung Quốc cũng đang siết chặt quản lý về an toàn thực phẩm, hàng rào kiểm dịch. Đây là điều mà các doanh nghiệp Việt Nam cần phải chú trọng thực hiện để hàng hóa của Việt Nam không phải bị trả về hoặc xếp hàng nằm chờ tại cửa khẩu như lâu nay. Theo VOV